11 thg 12, 2012

CÂY NGÂN HẠNH VÀ HẠT DẺ CƯỜI


NGÀY TẾT NÓI CHUYỆN ... HOA LÁ CÀNH: CÂY NGÂN HẠNH VÀ HẠT DẺ CƯỜI
 
Lời NoiLieu: NL được một người bạn sống nhiều năm ở Tung quở và thành thạo về cây cỏ thuốc men rỉ tai cho biết: Hạt dẻ cười chính là quả (hạt) của cây Ngân Hạnh. NoiLieu trố mắt vì ngạc nhiên vì từ trước đến nay cứ nghĩ rằng hạt dẻ cười là hạt dẻ ... bên Mỹ nhập về Việt Nam nên cũng chẳng bao giờ bỏ công sức ra tìm hiểu thực chất hạt dẻ cười là quả (hạt) của cây nào. Mới nhớ đến mấy bài trong bộ sách "Mười vạn câu hỏi tại sao" có nói về cây Ngân Hạnh vội mở ra xem. Nghĩ cũng thú vị cho ai thích tìm hiểu cây cỏ cũng như món măm ngày tết mà nhiều người ưa thích này.






 Quả Ngân hanh còn gọi là Bạch quả - Một vị thuốc
      
         Hạt dẻ cười: Bạch quả rang với muối


Ngân hạnh có quả còn gọi là bạch quả, do vỏ quả có màu trắng nõn. Tên thực vật Ginkgo biloba L. và tên dược Semen Ginkgo, cây có nguồn gốc từ Trung Quốc. Về sau được di thực đến nhiều nước như Nhật, Triều Tiên... Ở Việt Nam, cây được trồng tại Sapa, Đà Lạt.
Cây ngân hạnh là loại cây đặc sản của Trung Quốc. Trên thế giới chỉ có một số nước lấy giống từ Trung Quốc trồng được thôi. Ở Trung Quốc mặc dù loài cây này phân bố tương đối rộng và được trồng ở khắp nơi, nhưng số lượng cũng không nhiều lắm. Lẽ nào ở những nước khác lại thực sự không có cây ngân hạnh sao? Không phải như vậy, ở những nước khác cũng đã từng có, nhưng đã trở thành hóa thạch. Cho nên, cây ngân hạnh ở Trung Quốc được gọi là “hóa thạch sống”.
       Cách đây 300 triệu năm, cây ngân hạnh ra đời trên Trái đất, chúng dần dần phát triển rất mạnh, che phủ đại bộ phận mặt đất lúc đó. 170 triệu năm trước do sự phát triển mạnh mẽ của những loài cây mới mà cây ngân hạnh bắt đầu giảm dần. Đến 30 triệu năm trước, do trên Trái Đất đã xảy ra nhiều lần băng hà, tan sông băng ở Nam Cực đã làm ngập rất nhiều cây khiến cho loài cây ngân hạnh bị tiêu diệt hoàn toàn ở Châu Âu và ở Châu Bắc Mỹ, trở thành những hóa thạch dưới lòng đất. Ở Châu Á, ngân hạnh cũng hầu như bị tuyệt chủng. Do các mạch núi Trung Quốc hướng  đông tây nên đã có tác dụng cản trở những dòng sông băng (băng hà), vùng núi Hoa Trung và Hoa Đông chỉ bị sự xâm tràn một phần của dòng sông băng nên cây ngân hạnh ở Trung Quốc còn tồn tại đến ngày nay và trở thành hóa thạch sống của Trung Quốc. Cây ngân hạnh có cái tên “Cây ông cháu, có nghĩa là đời ông ươm cây, đời cháu mới có quả, chứng tỏ sự sinh trưởng của cây này rất chậm, điều đó cũng giải thích vì sao tuy nó phân bố rộng nhưng số lượng của nó rất ít ỏi.
      Còn một nguyên nhân khác là cây ngân hạnh có cây đực và cây cái, cây đực chỉ có thể ra hoa đực, còn cây cái chỉ có thể ra hoa cái, sau khi thụ phấn mới ra quả. Như vậy nếu nơi nào chỉ có cây cái thì không thể thụ phấn được và sẽ không thể kết quả được.
      Ngân hạnh - một vị thuốc bổ tỳ phế        Ngân hạnh còn gọi là bạch quả, do vỏ quả có màu trắng nõn. Tên thực vật Ginkgo biloba L. và tên dược Semen Ginkgo, cây có nguồn gốc từ Trung Quốc. Về sau được di thực đến nhiều nước như Nhật, Triều Tiên..., ở Việt Nam cây được trồng tại Sapa, Đà Lạt. 
       Trong Bản thảo Cương Mục của Lý Thời Trân thời nhà Minh - Trung Hoa đã viết: “Ngân hạnh ăn chín ấm phổi ích khí, trị ho hen, bớt đi đái nhiều, chữa bạch đới, di tinh. Ăn sống hạ đờm, tiêu độc, sát khuẩn...”. Trong trị liệu của Đông y, ngân hạnh được sử dụng để chữa viêm phế quản mạn tính, hen phế quản, lao phổi, đái dắt, di tinh, bạch đới...      Y học hiện đại cũng đã nghiên cứu và phân tích thành phần hóa học trong 100g ngân hạnh thấy chứa protein 13,4g, lipid 3g, glucid 71,2g, chất xơ 1g, tro 3,4g, các khoáng chất như kali, phospho, sắt, calcium, vitamin B1, B2..., cung cấp 365 calo. Ở ngân hạnh còn có một loại chất kiềm mang độc tố, trong đó phôi hạt màu xanh mang hàm lượng cao nhất. Vì vậy trước khi ăn ngân hạnh nhất thiết phải loại bỏ nhân phôi đó đi, đặc biệt trẻ nhỏ không cho dùng. 
Để có thể tham khảo và áp dụng, dưới đây xin giới thiệu những phương thuốc trị liệu từ ngân hạnh.
        Chữa đại tiện ra máu: Ngân hạnh 15g, đập vỡ, địa du 15g, cây dành dành 6g, sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần sáng và chiều.
       Chữa di tinh: Ngân hạnh 6g, đập vỡ, phúc bồn tử 6g, khiếm thực 15g, bao trứng bọ ngựa 6g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần.
       Chữa bạch đới ra nhiều: Ngân hạnh sao 10 hạt, hạt bí đao 30g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần sáng, chiều. Cần uống nhiều ngày liền.
       Chữa váng đầu, chóng mặt: Ngân hạnh 3 hạt, cùi nhãn 8 quả, thiên ma 3g. Ăn lúc đói vào các buổi sáng.
       Chữa đầu, mặt lở ngứa: Lấy ngân hạnh sống vừa đủ dùng, giã nát và bôi vào nơi lở ngứa, cần bôi vài ngày liền.
Dùng bồi bổ cho người phế thận suy yếu: Rang chín hạt ngân hạnh để ăn hoặc nấu chè sâm ngân hạnh ăn.
        Chữa ho hen có đờm, bổ phế: hạt ngân hạnh 200g, hồng táo 100g, ngân hạnh bóc bỏ vỏ ngoài, hồng táo bỏ hạt thái mỏng. Cho 1 lít nước bỏ ngân hạnh vào đun sôi đến khi ngân hạnh có màu trong suốt thì cho hồng táo, cùng một ít tinh bột, đường trắng 150g khuấy đều, nấu thành chè sử dụng cho 3-4 người ăn.
        Cháo bổ tỳ, cố tinh, trừ đờm, giải ho, hòa vị, thanh phế, trị khô khát, tăng cường thể lực: Ngân hạnh 80g, hạt sen 100g, đường trắng 250g, gạo tẻ ngon 200g. Bóc bỏ lớp vỏ ngoài của ngân hạnh, hạt sen ngâm nước cho mềm. Sau đó cho ngân hạnh và hạt sen đã ngâm nước cùng gạo tẻ rồi đổ 2.500ml nước vào đun sôi nhỏ lửa cho đến nhừ. Tiếp theo cho đường và chút ít tinh bột và tiếp tục đun cho đến khi nhừ, sánh là được. Ăn trong ngày.
       Cháo bổ thận, tư âm, chỉ khát, trị chứng tiêu khát do thận âm hư, tiểu dắt về đêm, khó ngủ, thần kinh suy nhược: Ngân hạnh 20g, khiếm thực 20g, đậu đen 40g, gạo tẻ ngon 40g. Vo sạch gạo tẻ rồi cho vào nồi đất cùng các vị trên, đun sôi sau hạ lửa riu riu cho đến khi nhừ, nêm gia vị vừa đủ, ăn nóng. Lưu ý: Nếu người mắc chứng tiêu khát do tỳ hư, tiêu chảy chỉ cần thay vị đậu đen bằng vị ý dĩ vẫn giữ nguyên cả 3 vị còn lại, chế biến như trên.
 
Hạt dẻ cười - Hạt (quả) của cây Ngân Hạnh (còn gọi là Bạch Quả).
 
        Hạt dẻ cười là một trong những loại hạt giàu năng lượng nhất: giàu axit béo, tuy không nhiều chất béo bằng các loại hạt khác nhưng nó chứa chất chống oxy hóa hàng đầu là axit béo omega-3, omega-6; chứa phylosterol (hợp chất trong thực vật có tác dụng ức chế hấp thụ cholesterol ở ruột); chất xơ và các chất chống oxy hóa. Ngoài ra, người ta còn khám phá 3 lợi ích cơ bản từ hạt dẻ cười:        
     Chống stress
      
Mùa đông lạnh, thiếu ánh nắng mặt trời làm bạn cảm thấy mệt mỏi? Công việc làm bạn căng thẳng? Khi đối mặt với những điều này, bạn nên nhấm nháp một ít hạt dẻ cười, điều này có thể giúp bạn lấy lại được tinh thần. Theo các nghiên cứu, do đặc tính chứa nhiều chất chống oxy hóa, hạt dẻ cười giúp bạn giảm những phản ứng tiêu cực do stress. Mỗi ngày nhấm nháp một ít hạt dẻ cười có thể làm giảm những tác động của stress lên huyết áp.       Hạt dẻ cười cũng là một loại thực phẩm rất giàu magiê (80mg/10g) - nguyên tố chống stress cực kì mạnh bởi nó có vai trò tích cực trong điều hòa huyết áp. Và thực tế là hiện nay, rất nhiều người hấp thụ lượng magiê mỗi ngày thấp hơn yêu cầu hàng ngày. Vậy tại sao bạn không bổ sung thêm magiê bằng cách này?        Tốt cho tiêu hóa        Chất xơ có vai trò rất quan trọng trong tiêu hóa, giúp hấp thụ nước, kích thích hoạt động co bóp của ruột và tăng cường hoạt động của các vi khuẩn. Và hạt dẻ cười chính là một trong các loại hạt giàu chất xơ nhất: 3g xơ/28g hạt, tương đương với 12% lượng cần hấp thụ hàng ngày, cao gấp hai lần hồ đào và ngang với yến mạch.         Phòng chống các bệnh tim mạch         Gần 90% các chất béo chứa trong hạt dẻ cười là loại chất béo chưa bão hòa, những chất béo này có thể giúp giảm cholesterol trong máu cũng như giảm các nguy cơ gây bệnh về tim mạch. Loại hạt này còn chứa nguyên tố kali, có tác dụng điều hòa hoạt động hệ động mạch. Và cuối cùng, các chất chống oxy hóa trong hạt dẻ cười (như polyphenol) rất có lợi cho tim.
      
Vậy thì không có lý do gì bạn từ chối ăn loại hạt vừa ngon lại thật sự bổ dưỡng!
Đề phòng ngộ độc bạch quả
         Bạch quả, hay còn gọi là quả ngân hạnh tiếng Anh gọi là Ginkgo hay Gingko, có thành phần độc tố là ammonocarbonous acid) còn có tên hychocyanic acid, formonitrile). Nó có thể dễ dàng kết hợp với cytochrome oxidase của cơ thể, làm cho hợp chất của tế bào này mất hết hoạt tính, khiến tế bào không thể tiếp nhận oxy;         Nói chung với người lớn thì khả năng chịu đựng tương đối cao; nhưng với trẻ nhỏ thì chỉ có thể chịu đựng được lượng rất nhỏ loại độc tố này, một lần mà ăn tới 30 hạt là trúng độc ngay. Ăn sống mức độ nguy hiểm càng cao.         Thông thường thì sau khi ăn chừng một đến vài tiếng đồng hồ là có triệu chứng trúng độc, thoạt đầu là lợm giọng, rồi nôn ói, đau bụng, tiêu chảy, tiếp đến là hoa mắt, váng đầu, bứt rứt khó chịu, co giật, hôn mê, nghiêm trọng có thể tử vong. 
      

4 nhận xét:

  1. hạt dẻ cười là hạt của cây hồ trăn (tên thực vật là Pistacia vera), khác hẳn từ hình dạng, đặc tinh so với bạch quả (tên thực vật Ginkgo biloba L.) Loại cây này được trồng ở rất nhiều nước. Bởi thế hạt thành phẩm của nó không quá đắt, chỉ tầm vài trăm nghìn một cân, và có thể len lỏi vào thực phẩm ăn vặt của mọi nhà.
    Tác giả hãy tham khảo thêm tại địa chỉ: http://monaco.vn/baiviet/chitiet.xhtml?id=48

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Cám ơn bạn đã đóng góp ý kiến.

      Xóa
  2. mình muốn mua cây hạnh ngân( bạch quả) ở TP.HCM thì liên hệ ở đâu?
    Mong bạn giúp đỡ!
    Replay qua email: phamhoangphuongktvt@gmail.com

    Trả lờiXóa