19 thg 3, 2014

DIỄN VĂN CỦA TỔNG THỐNG NGA PUTIN (1)

DIỄN VĂN CỦA TỔNG THỐNG NGA PUTIN (1)


(Soha.vn) - "Trong tâm trí và trái tim của nhân dân, Crimea vẫn luôn là một phần không thể tách rời của nước Nga..." - Tổng thống Nga Vladimir Putin.
Cám ơn cụ Letienh đã đưa về, tôi đi tìm mãi không được, lại thấy ở blog của cụ, vội chép về lưu ở đây sợ "nó" xóa mất. 


      Thưa các thành viên Hội đồng Liên bang, thưa các vị đại biểu Duma Quốc gia. Các đại biểu của Nước cộng hòa Crimea và Sevastopol hiện đang ở đây với chúng ta, những công dân Nga, nhân dân của Crimea và Sevastopol!
      Các bạn thân mến, việc chúng ta tập trung ở đây hôm nay có liên quan tới một vấn đề có ý nghĩa lịch sử và sống còn với tất cả chúng ta. Một cuộc trưng cầu dân ý tuân thủ đầy đủ mọi thủ tục dân chủ và chuẩn mực quốc tế vừa được tổ chức ở Crimea ngày 16/3.
     Hơn 82% cử tri đã tham gia bỏ phiếu. Và hơn 96% trong số họ đã ủng hộ việc hợp nhất với nước Nga. Những con số này, tự nó đã nói lên tất cả.
    Để hiểu lý do đằng sau sự lựa chọn này nên hiểu về lịch sử Crimea và những điều có ý nghĩa với cả nước Nga và Crimea.
    Mọi thứ ở Crimea đều cho thấy niềm kiêu hãnh và lịch sử chung của chúng ta. Đó là nơi có chứng tích Khersones cổ xưa, nơi hoàng tử Vladimir được rửa tội. Tinh thần Chính thống giáo mà Ngài nuôi dưỡng là nền tảng cho văn hóa, văn minh và những giá trị nhân văn kết nối nhân dân Nga, Ukraine và Belarus. Mộ phần của những người lính Nga mà sự anh dũng của họ đã đưa Crimea trở thành một phần của Đế quốc Nga cũng ở Crimea. Đó cũng là nơi có Sevastopol – thành phố huyền thoại với lịch sử chói lọi, một pháo đài, nơi đã khai sinh ra Hạm đội Biển Đen của nước Nga. Crimea là Balaklava và Kerch, Malakhov Kurgan và Sapun Ridge (những địa danh lịch sử ở Crimea – ND). Mỗi địa danh này đều là cái tên vô cùng tha thiết trong lòng chúng ta, là biểu tượng của lòng dũng cảm vô song và vinh quang của quân đội Nga.
   Crimea là nơi giao thoa độc đáo giữa truyền thống và văn hóa của những con người khác nhau. Điều này làm nó giống nước Nga, nơi không một tộc người đơn lẻ nào bị quên lãng trong những thế kỷ qua. Người Nga và người Ukraine, người Tatar ở Crimea và người của các dân tộc khác đã cùng sống bên nhau ở Crimea, cùng gìn giữ diện mạo, truyền thống, ngôn ngữ và tín ngưỡng của dân tộc mình.
     Thật là ngẫu nhiên khi dân số tại bán đảo Crimea hiện nay là 2,2 triệu người, trong đó, gần 1,5 triệu là người Nga, 350.000 là người Ukraine, song phần lớn vẫn coi tiếng Nga là tiếng mẹ đẻ. Có khoảng 290.000 - 300.000 là người Tatar tại Crimea, những người cũng nghiêng về phía Nga - theo kết quả của cuộc trưng cầu dân ý.
     Đúng, đã có lúc người Tatar tại Crimea, cũng như một vài dân tộc khác ở Liên Xô, bị đối xử không công bằng. Chỉ có một điều tôi có thể nói ở đây: hàng triệu người thuộc nhiều dân tộc khác nhau cũng đã phải chịu đựng, và họ chủ yếu là người Nga.
    Người Tatar ở Crimea đã quay trở về với quê hương của mình. Tôi tin tưởng rằng chúng ta có thể đạt được tất cả những quyết định cần thiết về mặt pháp lý và chính trị để hoàn thành việc trả lại danh dự cho người Tatar, để họ được hưởng quyền lợi của mình và được trong sạch thanh danh.
     Chúng ta hết mực tôn trọng người dân của tất cả các dân tộc đang sinh sống trên mảnh đất Crimea. Đây là ngôi nhà chung của họ, quê hương của họ, và sẽ là một việc làm đúng đắn khi 3 ngôn ngữ quốc gia tại Crimea - tiếng Nga, tiếng Ukraine và tiếng Tatar - được bình đẳng như nhau. Tôi tin người dân địa phương ủng hộ điều này.
     Thưa các bạn,
     Trong tâm trí và trái tim của nhân dân, Crimea vẫn luôn là một phần không thể tách rời của nước Nga. Niềm tin vững chắc ấy được xây dựng dựa trên sự thật và công lý, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, qua thời gian, trong mọi trường hợp, bất chấp tất cả những thay đổi mạnh mẽ của đất nước chúng ta suốt thế kỉ 20.
     Sau cuộc cách mạng, những đảng viên Xô Viết - vì một vài lý do nào đó - đã đem một phần rộng lớn lãnh thổ ở miền Nam nước Nga trong quá khứ cho nước Cộng hoà Ukraine. Điều này được thực hiện mà không hề cân nhắc tới đặc điểm tôn giáo của cư dân ở đây. Ngày nay, những khu vực đó hình thành nên vùng đông nam Ukraine. Sau đó, vào năm 1954, quyết định chuyển giao vùng lãnh thổ Crimea cho Ukraine đã được đưa ra, rồi cả Sevastopol, bất chấp thực tế rằng thành phố này trực thuộc liên bang. Đây là sáng kiến cá nhân của người lãnh đạo đảng, ông Nikita Khrushchev. Lý do đằng sau quyết định của ông... - xin để dành cho các sử gia làm rõ.
     Vấn đề bây giờ là quyết định này đã vi phạm trắng trợn các quy tắc về hiến pháp được đặt ra ngay từ thời đó. Quyết định này đã được lén lút đưa ra. Đương nhiên, không ai thèm hỏi tới người dân Crimea và Sevastopol. Họ phải đối diện với thực tế. Dân chúng hẳn nhiên đã thắc mắc tại sao Crimea lại bất ngờ trở thành một phần của Ukraine. Nhưng xét toàn diện - và chúng ta cũng phải đề cập tới điều này một cách rõ ràng, tất cả chúng ta đều biết - rằng quyết định này chỉ là hình thức, bởi lãnh thổ đã được chuyển giao bên trong biên giới của một nhà nước duy nhất. Khi ấy, thật không thể tưởng tượng rằng Ukraine và Nga lại tách ra và trở thành 2 quốc gia riêng biệt. Thế mà điều đó đã xảy ra.
     Thật không may là điều dường như không thể xảy ra lại trở thành hiện thực. Liên Xô sụp đổ. Mọi việc diễn ra nhanh tới mức gần như không có ai kịp nhận ra những sự việc này đột ngột tới mức nào và hậu quả của chúng là gì. Rất nhiều người, cả ở Nga và Ukraine cũng như tại các nước cộng hoà khác, hi vọng rằng Cộng đồng các Quốc gia Độc lập được thành lập vào thời điểm đó sẽ trở thành một hình thức nhà nước liên bang mới. Họ đã được nghe nói về đồng tiền chung, không gian kinh tế thống nhất, lực lượng vũ trang chung. Tuy nhiên, tất cả vẫn chỉ là hứa suông, trong khi đó, đất nước lớn đã tiêu tan. Chỉ khi Crimea trở thành một phần của quốc gia khác, Nga mới nhận ra rằng mình không đơn giản chỉ là bị lấy trộm - mình đã bị cưỡng đoạt.
      Đồng thời, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng bằng cách phô trương về chủ quyền, chính bản thân Nga đã góp phần khiến Liên Xô sụp đổ. Và khi sự sụp đổ đó được hợp pháp hoá, tất cả lại quên mất Crimea và Sevastopol - căn cứ chính của Hạm đội Biển Đen. Hàng triệu người đã đi ngủ ở một quốc gia và rồi tỉnh dậy tại một quốc gia khác, chỉ qua một đêm đã trở thành dân tộc thiểu số tại một nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ. Còn nước Nga lại trở thành một trong những dân tộc lớn nhất, nếu không muốn nói là nhóm dân tộc lớn nhất trên thế giới, bị chia cắt bởi các đường biên giới.
      Giờ đây, sau nhiều năm, tôi đã nghe thấy người dân Crimea nói rằng thời điểm năm 1991, họ bị trao đi như một bao tải khoai tây. Khó mà có thể không đồng ý với điều này. Thế còn vị thế của Nga? Nước Nga thì sao? Phải miễn cưỡng chấp nhận tình thế. Khi đó, quốc gia này đã trải qua những thời kỳ khó khăn tới mức thực tế là không còn có khả năng bảo vệ lợi ích của chính mình. Tuy nhiên, nhân dân đã không thoả hiệp với sự bất công kì quặc đó. Trong ngần ấy năm, người dân và nhiều nhân vật của công chúng đã lật lại vấn đề này, họ nói rằng về mặt lịch sử, Crimea là lãnh thổ của Nga, Sevastopol là một thành phố của Nga. Đúng vậy, từ trong trái tim và tâm trí của mình, tất cả chúng ta đều biết điều đó, nhưng chúng ta phải bắt đầu từ thực tế sẵn có và xây dựng mối quan hệ láng giềng tốt đẹp với quốc gia Ukraine độc lập trên một nền tảng mới. Trong khi đó, quan hệ của chúng ta với Ukraine, với những người dân Ukraine anh em, vẫn luôn và sẽ mãi đóng vai trò quan trọng hàng đầu.
      Hôm nay, chúng ta có thể nói về điều này một cách cởi mở, và tôi muốn chia sẻ với các bạn một số chi tiết về các thỏa thuận đã được ký kết vào đầu những năm 2000. Khi đó, Tổng thống Ukraine là ngài Kuchma đã đề nghị tôi xúc tiến quá trình phân định biên giới Nga - Ukraine. Lúc đó, quá trình này trên thực tế đang rơi vào bế tắc. Nga coi như đã công nhận Crimea là một phần của Ukraine, nhưng chưa có thỏa thuận về phân định biên giới. Dù tình hình rất phức tạp, nhưng tôi đã ngay lập tức chỉ thị cho các cơ quan chính phủ Nga đẩy nhanh việc lập hồ sơ về biên giới, để mọi người đều hiểu rõ rằng bằng việc chấp thuận phân định đường biên, chúng ta thừa nhận về cả pháp lý và thực tế rằng Crimea là lãnh thổ của Ukraine, và do đó có thể khép lại vấn đề.
    Chúng ta đã giúp đỡ Ukraine không chỉ trong vấn đề Crimea, mà còn trong cả một vấn đề phức tạp như biên giới lãnh hải ở Biển Azov và eo biển Kerch. Những gì chúng ta làm đều vì coi mối quan hệ tốt đẹp với Ukraine là điều quan trọng nhất đối với chúng ta, và để họ không mắc kẹt trong bế tắc của các tranh chấp lãnh thổ. Chúng ta đã mong đợi rằng Ukraine vẫn là láng giềng tốt. Chúng ta cũng đã hy vọng rằng công dân Nga và người nói tiếng Nga ở Ukraine, đặc biệt là các vùng Đông Nam và Crimea có thể sống trong một đất nước văn minh, dân chủ và hữu nghị, nơi có thể bảo vệ các quyền lợi của họ theo chuẩn mực luật pháp quốc tế.
     Thế nhưng, tình hình lại không diễn ra như vậy. Hết lần này đến lần khác, người ta đã rắp tâm tước đoạt những di sản lịch sử và thậm chí cả ngôn ngữ của người Nga, đẩy họ đến với sự đồng hóa ép buộc. Hơn thế, người Nga, cũng như những công dân khác của Ukraine đang phải chịu đựng cuộc khủng hoảng nhà nước và chính trị vốn đã làm rung chuyển quốc gia này từ 20 năm qua.
     Tôi hiểu vì sao người Ukraine muốn thay đổi. Họ đã có đủ bộ máy nắm quyền lực trong suốt những năm tháng độc lập của Ukraine. Các Tổng thống, Thủ tướng và đại biểu quốc hội đã thay đổi, nhưng thái độ của họ đối với đất nước và người dân của mình thì vẫn vậy. Họ bòn rút quốc gia, đấu đá lẫn nhau để tranh giành quyền lực, tài sản và dòng ngoại tệ mà chẳng mảy may quan tâm tới dân thường. Họ không hề băn khoăn vì sao hàng triệu người dân Ukraine không nhìn thấy triển vọng tại quê nhà và phải ra nước ngoài làm việc qua ngày. Tôi muốn nhấn mạnh điều này: họ không chuyển tới Thung lũng Silicon, mà lại làm công nhân công nhật. Chỉ tính riêng năm ngoái, đã có gần 3 triệu người tìm những công việc như thế này tại Nga. Theo một vài nguồn tin, năm 2013, tổng thu nhập của họ ở Nga là hơn 20 tỉ USD, bằng 12% GDP của Ukraine.
    Tôi muốn nhắc lại rằng, tôi thấu hiểu những người dân đổ ra quảng trường Maidan, mang theo các khẩu hiệu hoà bình, phản đối tham nhũng, quản lý đất nước không hiệu quả và đói nghèo. Quyền được biểu tình hoà bình, các cuộc bầu cử và thủ tục mang tính dân chủ tồn tại vì một mục đích duy nhất là thay thế quan chức không làm hài lòng người dân. Tuy nhiên, những người đứng sau các diễn biến mới nhất ở Ukraine lại có kế hoạch hành động khác: họ đang chuẩn bị cho một sự tiếm quyền khác đối với chính phủ, họ muốn thâu tóm quyền lực và sẽ không dừng lại. Họ viện tới khủng bố, giết người, bạo loạn. Những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa tân phát xít, những kẻ ghét Nga và chống đối người Xê-mít đã thực hiện cuộc đảo chính này. Họ tiếp tục làm như vậy tại Ukraine cho đến ngày nay.
    Cái gọi là chính quyền mới đã bắt đầu bằng việc đưa ra một dự luật sửa đổi chính sách về ngôn ngữ, một hành vi vi phạm trực tiếp tới quyền lợi của các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, họ ngay lập tức phải chịu sự trừng phạt từ các nhà tài trợ nước ngoài của chính mình - những người được gọi là chính trị gia. Phải thừa nhận rằng các cố vấn của chính phủ đương thời thông minh và biết rõ những nỗ lực nhằm xây dựng một quốc gia Ukraine thực thụ sẽ dẫn tới đâu. Dự luật đã bị gạt sang một bên, song rõ ràng là sẽ được thực thi trong tương lai. Không có bất cứ điều gì về vấn đề này được nhắc tới, hoặc có thể là chúng ta có trí nhớ ngắn hạn. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhìn thấy rõ ràng tâm địa của những kẻ kế thừa tư tưởng của Bandera, một đồng loã của Hitler trong Thế chiến II.
    Rõ ràng là tại Ukraine hiện nay, không có người nắm quyền hành hợp pháp, không có ai để bàn chuyện. Nhiều cơ quan chính phủ đã bị những kẻ lừa đảo tiếm quyền, song chúng lại không được kiểm soát đất nước, và bản thân chúng - tôi muốn nhấn mạnh điều này - thường xuyên bị những kẻ cực đoan điều khiển. Trong một vài trường hợp, bạn cần có giấy phép đặc biệt từ chiến binh Maidan để gặp gỡ các Bộ trưởng nhất định trong chính phủ hiện tại. Không phải chuyện đùa - đó là thực tế.
    Những người phản đối cuộc đảo chính ngay lập tức bị đe doạ đàn áp. Tất nhiên, người đầu tiên chịu trận ở đây là Crimea, một Crimea nói tiếng Nga. Vì vậy, người dân Crimea và Sevastopol đã tìm tới Nga để mong được giúp đỡ trong việc bảo vệ quyền lợi và cuộc sống của mình, ngăn chặn các sự việc đã và vẫn đang tiếp diễn ở Kiev, Donetsk, Kharkov cùng các thành phố khác của Ukraine.
     Hiển nhiên là chúng ta không thể để cho những lời kêu gọi này bị phớt lờ; chúng ta không thể bỏ mặc Crimea và người dân ở đó trong cơn hoạn nạn. Đối với chúng ta, đó là sự phản bội.
     Trước hết, chúng ta đã phải tạo điều kiện để lần đầu tiên trong lịch sử, người dân ở Crimea có thể bày tỏ tự do ý chí của mình một cách hòa bình. Thế nhưng, chúng ta đã được nghe gì từ những người bạn Tây Âu và Bắc Mỹ? Họ nói chúng ta đang vi phạm các tiêu chuẩn luật pháp quốc tế.
    Thứ nhất, thật tốt là ít nhất họ cũng nhớ rằng vẫn tồn tại một thứ gọi là luật pháp quốc tế - muộn dù sao còn hơn không.
    Thứ hai, và quan trọng nhất là – chính xác thì chúng ta đang vi phạm điều gì? Đúng, Tổng thống Liên bang Nga đã nhận được sự cho phép của Thượng viện để sử dụng lực lượng vũ trang ở Ukraine. Nhưng nghiêm túc mà nói, chưa có ai hành động trên sự cho phép đó. Quân đội Nga chưa từng tiến vào Crimea. Họ đã hiện diện ở đây từ trước, theo đúng khuôn khổ của một hiệp định quốc tế. Đúng, chúng ta đã tăng cường lực lượng tại đây. Nhưng, đây là điều mà tôi muốn tất cả mọi người nghe và hiểu: Chúng ta đã không vượt quá giới hạn quân số của lực lượng vũ trang tại Crimea, vốn được quy định là 25.000 người. Vì không cần phải làm như vậy.
    Tiếp theo. Khi tuyên bố độc lập và quyết định tổ chức trưng cầu dân ý, Hội đồng Tối cao Crimea đã dựa vào Hiến chương Liên Hợp Quốc, trong đó khẳng định các quốc gia đều có quyền tự quyết. Tiện đây, tôi muốn nhắc các bạn nhớ rằng, khi tách khỏi Liên bang Xô Viết, Ukraine cũng làm đúng như vậy, chính xác đến từng từ. Ukraine đã sử dụng quyền này, nhưng người dân ở Crimea thì lại bị khước từ. Tại sao vậy?
    Thêm nữa, chính quyền Crimea đã dựa vào một tiền lệ rất nổi tiếng là Kosovo - tiền lệ do những người bạn phương Tây của chúng ta chính tay tạo ra trong một tình huống hoàn toàn tương tự, khi họ công nhận rằng việc đơn phương chia cắt Kosovo khỏi Serbia, chính xác như những gì Crimea đang làm hiện nay, là hợp pháp và không cần bất kỳ sự cho phép nào từ chính quyền trung ương. Theo đúng Điều 2, Chương 1 của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tòa án quốc tế của Liên Hợp Quốc đã đồng ý với cách tiếp cận này và đã đề những ghi chú (mà tôi trích dẫn lại sau đây) trong phán quyết ngày 22/7/2010: “Không có điều khoản cấm chung nào từ thông lệ của Hội đồng Bảo an liên quan đến việc tuyên bố độc lập” và “Luật pháp quốc tế không bao hàm quy định cấm tuyên bố độc lập”. Hoàn toàn dễ hiểu, như họ nói.
    Tôi không muốn dựa vào các trích dẫn, nhưng trong trường hợp này, tôi không thể làm khác. Đây là một trích dẫn từ một tài liệu chính thức khác: Bản tường trình của Mỹ ngày 17/4/2009 gửi đến cùng Tòa án quốc tế của Liên Hợp Quốc liên quan đến các buổi điều trần về Kosovo. Một lần nữa, tôi xin lại được trích dẫn: “Việc tuyên bố độc lập có thể, và thường là vi phạm luật pháp trong nước. Tuy nhiên, điều đó không khiến nó vi phạm luật pháp quốc tế”. Hết trích dẫn.
    Họ đã viết như vậy, đem phổ biến khắp thế giới, được mọi người đồng ý, và giờ họ lại tỏ ra bất bình. Mà về cái gì chứ? Hành động của người dân Crimea hoàn toàn phù hợp với các chỉ dẫn trên, như nó vốn vậy. Hãy thử nghĩ rằng người Albani ở Kosovo (chúng ta hoàn toàn tôn trọng họ) được phép làm như vậy. Còn người Nga, người Ukraine và người Tatar ở Crimea thì không. Một lần nữa, ai cũng sẽ thắc mắc tại sao.
   Chúng ta vẫn nghe Mỹ và Tây Âu nói rằng Kosovo là một trường hợp đặc biệt. Điều gì đã khiến nó trở nên đặc biệt trong mắt những người bạn này của chúng ta? Hóa ra đó là vì cuộc xung đột ở Kosovo đã khiến rất nhiều người thương vong. Điều này có phải một lập luận có cơ sở pháp lý? Phán quyết của Tòa án quốc tế không hề nói như vậy. Nó thậm chí còn không phải là một thứ tiêu chuẩn kép; nó là kiểu lý sự cùn, ấu trĩ kinh ngạc. Con người ta không nên đổi trắng thay đen, cố gắng một cách thô thiển như vậy để khiến mọi thứ thuận theo lợi ích của mình. Nếu cứ theo logic này, chúng ta sẽ phải chắc chắn mọi cuộc xung đột đều dẫn đến tổn thất về sinh mạng.
    Tôi sẽ nói rõ ràng rằng - nếu lực lượng tự vệ địa phương ở Crimea không thể kiểm soát được tình hình thì sẽ có thương vong. May mắn là điều này không xảy ra. Không có bất cứ cuộc đụng độ vũ trang nào và không có thương vong. Bạn nghĩ vì sao lại như vậy? Câu trả lời rất đơn giản: bởi nó rất khó, thực tế là không thể chống lại ý chí của người dân. Tại đây, tôi muốn cám ơn quân đội Ukraine - 22.000 người lính vũ trang đến tận răng. Tôi muốn cám ơn binh sĩ, những người đã kiềm chế một cuộc đổ máu và không nhuộm đỏ quân phục của mình bằng máu.
    Cũng liên quan tới việc này, một vài ý khác đã nảy ra trong tâm trí. Họ liên tục nói về cái được gọi là sự can thiệp của Nga ở Crimea, một cuộc xâm lược. Điều này thực lạ tai. Tôi không thể nhớ ra bất cứ một cuộc can thiệp quân sự nào trong lịch sử mà lại không có súng nổ và thương vong.
    Thưa các bạn,
    Như một tấm gương, tình hình ở Ukraine phản ánh những gì đang và đã diễn ra trên thế giới trong một vài thập kỷ qua. Sau khi trạng thái lưỡng cực tan rã, chúng ta không còn sự ổn định nữa. Các thể chế quốc tế chủ chốt không những không mạnh hơn, mà ngược lại, trong nhiều trường hợp còn suy thoái một cách đáng buồn. Các đối tác phương Tây của chúng ta, dẫn đầu là Mỹ thích dùng “quy tắc của súng đạn” hơn là luật pháp quốc tế. Họ đi đến chỗ tin rằng họ đặc biệt và có đặc quyền, rằng họ có thể quyết định vận mệnh thế giới, rằng chỉ họ mới luôn luôn đúng. Họ làm bất cứ thứ gì họ thích: chỗ này, chỗ kia. Họ sử dụng vũ lực chống lại các quốc gia có chủ quyền, xây dựng các liên minh dựa trên nguyên tắc “Nếu anh không theo tôi nghĩa là anh chống lại tôi”. Để cho sự xâm lược này có vẻ hợp pháp, họ ép buộc các tổ chức quốc tế phải đưa ra các nghị quyết. Và nếu vì một vài lý do nào đó mà cách này không hiệu quả, thì họ phớt lờ luôn cả Liên Hợp Quốc lẫn Hội đồng Bảo an.
    Điều này đã xảy ra ở Nam Tư, năm 1999, hẳn chúng ta đều còn nhớ rõ. Dù chính mắt tôi chứng kiến, thật khó mà tin rằng, vào cuối thế kỷ 20 mà một thủ đô ở châu Âu, Belgrade, lại chìm dưới các cuộc tấn công bằng tên lửa trong vài tuần, và sau đó là đến cuộc can thiệp vũ trang thật sự. Có nghị quyết nào của Hội đồng Bảo an về vấn đề này lại cho phép những hành động như vậy? Không hề. Và rồi họ đánh Afghanistan, Iraq, vi phạm trắng trợn nghị quyết của Hội đồng Bảo an về Lybia, khi thay vì chỉ áp đặt cái gọi là vùng cấm bay thì họ đồng thời dội bom luôn xuống đó.
    Đã có một chuỗi các cuộc “cách mạng màu” được giật dây. Chắc chắn là người dân ở các nước nơi diễn ra các sự kiện này đã chán ngán chế độ độc tài và nghèo khổ, không có tương lai. Nhưng những tình cảm này đã bị lợi dụng một cách bất nhẫn. Các tiêu chuẩn được áp đặt lên các nước này mà không hề phù hợp với lối sống, truyền thống và văn hóa của người dân. Và hậu quả là thay vì dân chủ, tự do là hỗn loạn, bạo lực bùng phát và hàng chuỗi biến động. Mùa xuân Ả Rập đã biến thành Mùa đông Ả Rập.
     Một tình huống tương tự đã diễn ra ở Ukraine. Năm 2004, để đưa một ứng cử viên mà họ muốn vào cuộc bầu cử Tổng thống, họ đã nghĩ ra một thứ gọi là cuộc bầu cử vòng ba, vốn không được quy định trong luật. Nó thật lố bịch và là sự nhạo báng đối với Hiến pháp. Và hôm nay, họ lại tung ra một lực lượng dân quân được tổ chức và trang bị hùng hậu.
    Chúng ta hiểu điều gì đang diễn ra. Chúng ta hiểu rằng những hành động này là nhằm chống lại Ukraine và nước Nga, chống lại sự hội nhập Liên minh Á-Âu. Và tất cả diễn ra khi Nga đang nỗ lực đối thoại với các nước phương Tây. Chúng ta vẫn kiên trì đề xuất hợp tác trên mọi vấn đề chủ chốt. Chúng ta muốn củng cố lòng tin và hướng tới quan hệ bình đẳng, cởi mở và công bằng. Nhưng chúng ta đã không thấy những bước đi tương tự từ phía bên kia.
   Mời độc giả đọc tiếp Phần 2 bài diễn văn lịch sử của Tổng thống Nga 
TẠI ĐÂY
Read More

DIỄN VĂN CỦA TỔNG THỐNG NGA PUTIN (2)

DIỄN VĂN CỦA TỔNG THỐNG NGA PUTIN (2)


(Soha.vn) - "Xin đừng tin những ai muốn các bạn sợ hãi nước Nga, kêu gào rằng rồi các vùng khác của Ukraine cũng theo chân Crimea..." - Tổng thống Nga V.Putin.
Cám ơn cụ Letienh đã đưa về, tôi đi tìm mãi không được, lại thấy ở blog của cụ, vội chép về lưu ở đây sợ "nó" xóa mất. 
Nếu cần xem trước phần 1, xin nhấn VÀO ĐÂY

 ...Chúng ta muốn củng cố lòng tin và hướng tới quan hệ bình đẳng, cởi mở và công bằng. Nhưng chúng ta đã không thấy những bước đi tương tự từ phía bên kia.
     Ngược lại, họ đã nói dối chúng ta nhiều lần, đưa ra nhiều quyết định sau lưng chúng ta, đặt chúng ta trước những thực tế đã rồi. Điều này đã xảy ra cùng với sự mở rộng của NATO sang phía Đông, cũng như việc họ triển khai hạ tầng quân sự ở biên giới của chúng ta. Họ vẫn tiếp tục nhắc đi nhắc lại một luận điệu rằng: “Thôi nào, việc này chẳng liên quan gì đến các anh đâu”. Nói thế thì dễ dàng quá.
     Điều này cũng đã xảy ra khi họ thiết lập một hệ thống phòng thủ tên lửa. Bất chấp mọi sự lo ngại của chúng ta, dự án này vẫn được thúc đẩy. Nó xảy ra cùng với sự chậm trễ lê thê trong đối thoại về các vấn đề visa, cam kết cạnh tranh công bằng và tham gia tự do vào thị trường toàn cầu.
      Hôm nay, chúng ta đang bị đe dọa trừng phạt, nhưng chúng ta vốn cũng đã trải qua nhiều lần bị kiềm tỏa, những lần gây ảnh hưởng đáng kể đến chúng ta, nền kinh tế và đất nước chúng ta. Ví dụ, ngay trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ và sau đó là các nước khác đã có một danh sách dài các công nghệ và thiết bị hạn chế bán cho Liên Xô, lập danh sách của Ủy ban phối hợp kiểm soát xuất khẩu đa phương. Hiện nay, trên danh nghĩa, họ đã xóa bỏ những quy định này, nhưng đó chỉ là danh nghĩa. Còn trên thực tế, nhiều hình thức hạn chế vẫn còn hiệu lực.
          Một cách ngắn gọn, chúng ta có đủ lý do để cho rằng chính sách phong tỏa đáng hổ thẹn này, vốn đã kéo dài từ thế kỷ 18, 19, 20, vẫn còn được duy trì đến tận ngày nay. Họ luôn tìm mọi cách dồn chúng ta vào góc tường, bởi chúng ta có một vị thế độc lập, bởi chúng ta duy trì vị thế đó, và bởi chúng ta gọi mọi thứ như nó vốn có và không tham gia vào những trò đạo đức giả. Ở Ukraine, các đối tác phương Tây của chúng ta đã vượt qua giới hạn, họ đùa với lửa và hành động một cách vô trách nhiệm, thiếu chuyên nghiệp.
       Sau hết, họ hoàn toàn ý thức được rằng đang có hàng triệu người Nga sống ở Ukraine và Crimea. Hẳn rằng họ phải thiếu bản năng chính trị và lương tri mới không lường được hậu quả từ những hành động của mình. Nước Nga đã rơi vào một vị thế không thể thoái lui. Nếu anh lấy hết sức ép một cái lò xo, nó sẽ bật lại rất mạnh. Hãy luôn nhớ điều này.
      Hôm nay, điều bắt buộc là phải chấm dứt cơn cuồng loạn này, gạt bỏ lối khoa trương thời Chiến tranh Lạnh và thừa nhận thực tế hiển nhiên rằng: Nước Nga là một bên tích cực và độc lập trong các vấn đề quốc tế; giống như các nước khác, Nga có các lợi ích quốc gia mà các nước phải tính đến và tôn trọng.
    Đồng thời, chúng ta cảm ơn tất cả những người đã thấu hiểu các hành động của chúng ta ở Crimea. Chúng ta cảm ơn nhân dân Trung Quốc, các nhà lãnh đạo của họ luôn xem xét tình hình ở Ukraine và Crimea trong bối cảnh chính trị và lịch sử đầy đủ. Chúng ta cảm kích sự thận trọng và khách quan của Ấn Độ.
     Hôm nay, tôi muốn nhắn nhủ nhân dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, những người ngay từ ngày lập quốc và thông qua bản Tuyên ngôn Độc lập, vẫn luôn kiêu hãnh đặt tự do lên trên hết thảy. Phải chăng mong muốn của người dân Crimea được tự do lựa chọn vận mệnh cho mình không phải là một giá trị như vậy? Xin hãy hiểu chúng tôi.
    Tôi tin rằng những người dân châu Âu, mà đầu tiên và trước hết là người Đức cũng sẽ hiểu tôi. Xin cho tôi được nhắc các bạn rằng trong quá trình tham vấn chính trị về việc thống nhất Đông Đức và Tây Đức, một số nước khi đó và hiện nay vẫn là đồng minh của Đức, đã không ủng hộ việc thống nhất. Thế nhưng, nước Nga đã bày tỏ sự ủng hộ dứt khoát đối với ý nguyện thống nhất thành thật và mãnh liệt của người Đức. Tôi tin rằng các bạn chưa quên điều đó, và tôi mong rằng các công dân Đức sẽ ủng hộ khát vọng khôi phục sự thống nhất của người Nga, của nước Nga lịch sử.
    Tôi cũng muốn nói với nhân dân Ukraine. Tôi chân thành mong muốn các bạn hiểu chúng tôi: Chúng tôi không bao giờ muốn làm tổn hại các bạn theo bất cứ cách nào, cũng không bao giờ muốn làm làm tổn thương lòng yêu nước của các bạn, không như những người sẵn sàng hy sinh sự thống nhất của Ukraine vì các tham vọng chính trị. Họ giương khẩu hiệu ca ngợi sự vĩ đại của Ukraine, nhưng cũng chính họ là những người làm mọi thứ để chia rẽ đất nước này. Những người bạn Ukraine thân mến, tôi mong các bạn hãy nghe tôi. Xin đừng tin những ai muốn các bạn sợ hãi nước Nga, kêu gào rằng rồi các vùng khác của Ukraine cũng theo chân Crimea. Chúng tôi không hề muốn chia cắt Ukraine. Chúng tôi không cần điều đó. Còn về Crimea, đó đã và sẽ mãi mãi là vùng đất của người Tatar, người Ukraine và người Nga.
    Tôi xin được nhắc lại rằng, như thực tế đã có từ nhiều thế kỷ nay, Crimea sẽ là mái nhà chung của tất cả những người sống ở đó.
    Crimea là di sản lịch sử chung của chúng ta và là một nhân tố quan trọng trong sự ổn định khu vực. Và vùng đất có ý nghĩa chiến lược này nên là một phần của một quốc gia ổn định và vững mạnh mà hiện chỉ có thể là nước Nga. Nếu không, thưa các bạn (tôi đang nói với cả nước Nga và Ukraine), các bạn và chúng tôi, người Nga và người Ukraine, có thể mất hoàn toàn Crimea. Và việc này có thể xảy ra trong một tương lai rất gần. Xin hãy suy nghĩ về điều đó.
    Cũng xin hãy để tôi lưu ý rằng, chúng ta đã từng nghe Kiev tuyên bố Ukraine sẽ sớm gia nhập NATO. Điều này có ý nghĩa như thế nào với Crimea và Sevastopol trong tương lai? Nó có thể có nghĩa là hải quân NATO sẽ ở ngay đây, trong thành phố là niềm vinh quang của quân đội Nga. Và viễn cảnh này có thể tạo ra một mối đe dọa không hề tưởng tượng mà hoàn toàn có thật đối với toàn bộ miền Nam nước Nga. Tất cả những điều đáng ra có thể trở thành hiện thực này không xảy ra là nhờ sự lựa chọn của người dân Crimea, và tôi muốn cảm ơn họ về điều đó.
     Nhưng xin cũng để tôi nói rằng chúng ta không chống lại sự hợp tác với NATO, chắc chắn không phải là như vậy. Nhưng với tất cả quy trình nội bộ trong tổ chức, NATO vẫn là một liên minh quân sự, và chúng ta chống lại việc có một liên minh quân sự đặt căn cứ ngay ở sân sau của chúng ta, hay trên lãnh thổ lịch sử của chúng ta. Tôi không thể tưởng tượng cảnh chúng ta đến Sevastopol để thăm các thủy thủ NATO. Dĩ nhiên phần lớn họ là những chàng trai tuyệt vời. Nhưng sẽ tốt hơn nếu họ đến thăm chúng ta, làm khách của chúng ta, hơn là ngược lại.
    Hãy để tôi nói một cách thẳng thắn rằng phải nhìn những gì đang diễn ra ở Ukraine vào lúc này, nhìn người dân gồng mình chịu đựng và thấp thỏm lo không biết điều gì sẽ diễn ra hôm nay, điều gì sẽ đến vào ngày mai là điều thật sự dày vò trái tim chúng ta. Sự lo lắng của người Nga là dễ hiểu, vì đơn giản, chúng ta không chỉ là những láng giềng gần gũi, mà như tôi đã nói rất nhiều lần, chúng ta là một dân tộc. Kiev là mẹ của các thành phố Nga. Người Rus cổ đại là tổ tiên chung của chúng ta, và chúng ta không thể sống thiếu nhau.
   Hãy để tôi nói thêm một điều khác nữa. Hàng triệu người Nga và người nói tiếng Nga đang sống ở Ukraine, và sẽ tiếp tục là như vậy. Nước Nga sẽ luôn luôn bảo vệ các lợi ích của mình bằng mọi biện pháp chính trị, ngoại giao, pháp lý. Nhưng hơn hết, việc đảm bảo quyền và lợi ích của những người dân này, đảm bảo rằng họ được bảo vệ đầy đủ chính là lợi ích của Ukraine. Điều này là sự đảm bảo cho sự ổn định và toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine.
    Chúng ta mong muốn làm bạn với Ukraine, mong muốn Ukraine là một đất nước vững mạnh, có chủ quyền và tự chủ. Hơn hết, Ukraine là một trong những đối tác lớn nhất của chúng ta. Hai bên có những dự án chung và tôi tin tưởng vào sự thành công của các dự án này, bất chấp những khó khăn hiện tại. Quan trọng nhất là, chúng ta muốn hòa bình và hòa hợp dân tộc ngự trị ở Ukraine, và chúng ta sẵn sàng hợp tác với các nước khác để hỗ trợ và tạo thuận lợi cho quá trình này. Nhưng như tôi đã nói, chỉ có người dân Ukraine mới có thể đưa mọi việc vào khuôn khổ.
    Nhân dân Crimea và Sevastopol, toàn thể nước Nga ngưỡng mộ chí khí, sự dũng cảm và phẩm giá của các bạn. Chính các bạn đã quyết định tương lai Crimea. Trong những ngày này, chúng ta gần nhau hơn bao giờ hết, ủng hộ lẫn nhau. Đó là tình đoàn kết chân thành. Chính ở những bước ngoặt lịch sử như thế này mà một quốc gia có thể chứng tỏ sự trưởng thành và sức mạnh tinh thần. Người Nga đã cho thấy những phẩm chất này thông qua sự ủng hộ mạnh mẽ dành cho các đồng bào mình.
    Vị thế chính sách đối ngoại của Nga trong vấn đề này vững chãi chính nhờ vào ý chí của hàng triệu người dân chúng ta, sự thống nhất của cả nước và sự hỗ trợ của các lực lượng quần chúng và chính trị trong nước. Tôi muốn cảm ơn tất cả các bạn về tinh thần ái quốc này, tất cả, không trừ một ai. Chúng ta cần tiếp tục duy trì sự thống nhất này để giải quyết các nhiệm vụ đang chờ chúng ta trên con đường phía trước.
     Chắc chắn chúng ta sẽ còn phải đối phó với những sự chống đối từ bên ngoài. Nhưng đây là một quyết định mà chúng ta cần phải làm cho chính mình. Liệu chúng ta đã sẵn sàng kiên định bảo vệ các lợi ích quốc gia, hay sẽ buông xuôi, lui bước? Một số chính trị gia phương Tây đã hăm dọa chúng ta không chỉ bằng các biện pháp trừng phạt và còn bằng viễn cảnh gia tăng các vấn đề nghiêm trọng trong nước. Tôi muốn biết chính xác thì họ nghĩ gì trong đầu: Sử dụng những kẻ phản quốc, hay hy vọng sẽ đẩy chúng ta vào một tình thế kinh tế xã hội đi xuống để kích động sự bất bình của người dân? Chúng ta chắc chắn sẽ đáp trả thích đáng các tuyên bố vô trách nhiệm và đầy khiêu khích đó...
      Thưa các bạn,
       Tôi hiểu người dân Crimea, những người lựa chọn các phương án rõ ràng nhất trong cuộc trưng cầu dân ý: Crimea nên thuộc Ukraine hay thuộc Nga?. Chúng tôi có thể nói chắc chắn rằng khi tiến hành xây dựng câu hỏi, giới chức Crimea và Sevastopol, các nhà lập pháp, đã đặt sang một bên các nhóm và lợi ích chính trị để chỉ lấy lợi ích cơ bản của người dân làm nền tảng cho công việc của mình. Tình hình kinh tế, chính trị, dân số và lịch sử cụ thể của Crimea có thể khiến cho bất cứ một lựa chọn nào khác được đề xuất sẽ chỉ mang tính tạm thời, dễ đổ vỡ, và không thể tránh khỏi việc làm xấu thêm tình hình - điều này sẽ để lại hậu quả vô cùng tai hại đối với cuộc sống của người dân. Do đó, người dân Crimea đã quyết định trả lời một cách chắc chắn và cương quyết, không hề lưỡng lự. Cuộc trưng cầu dân ý này công bằng và minh bạch, người dân Crimea đã thể hiện ý muốn của họ theo một cách rõ ràng, đầy thuyết phục, và họ khẳng định họ muốn về với Nga.
   Giờ đây Nga cũng sẽ phải đưa ra một quyết định khó khăn, cân nhắc tới nhiều yếu tố khác nhau, cả trong và ngoài nước. Người dân Nga ở đây nghĩ gì? Tại đây, cũng giống như tại bất cứ một quốc gia dân chủ nào khác, công chúng có quan điểm khác nhau, và tôi muốn chỉ ra rằng tuyệt đại đa số người dân công khai ủng hộ những gì đang diễn ra.
     Các cuộc thăm dò dư luận gần đây nhất được tiến hành tại Nga cho hay, 95% người dân nghĩ rằng Nga nên bảo vệ quyền lợi của người Nga cũng như của các tộc người khác sinh sống tại Ukraine - 95% tổng số dân cư của chúng ta. Hơn 83% nghĩ rằng Nga nên làm vậy ngay cả khi nó sẽ làm phức tạp mối quan hệ của chúng ta với một vài các quốc gia khác. 86% người dân chúng ta vẫn coi Crimea thuộc lãnh thổ Nga và là một phần đất đai của quốc gia chúng ta. Và một con số đặc biệt quan trọng khác, hoàn toàn phù hợp với kết quả của cuộc trưng cầu dân ý tại Crimea: gần 92% người dân ủng hộ sự tái hợp nhất của Crimea về Nga.
    Như vậy, chúng ta thấy rằng đa số người Crimea và đại đa số người dân Liên bang Nga ủng hộ sự tái hợp nhất nước cộng hoà tự trị Crimea và thành phố Sevastopol về Nga.
     Vấn đề giờ đây là quyết định chính trị của riêng Nga, bất cứ quyết định nào ở đây cũng chỉ dựa trên ý chí của người dân, bởi nhân dân là nền tảng cơ bản của tất cả mọi chính quyền.
      Thưa các thành viên Hội đồng Liên bang, đại biểu Duma Quốc gia, người dân Nga, cư dân Crimea và Sevastopol, hôm nay, thuận theo ý dân, tôi đệ trình lên Quốc hội Liên bang, yêu cầu xem xét Luật Hiến pháp về việc thành lập hai chủ thể liên bang của Nga: Cộng hoà Crimea và thành phố Sevastopol, đồng thời phê chuẩn công ước công nhận Crimea và Sevastopol thuộc Liên bang Nga - họ đã sẵn sàng ký kết. Tôi tin tưởng vào sự ủng hộ của các bạn.

Read More

18 thg 3, 2014

ĐƯỜNG TỐNG THƠ BỐN CÂU (II)

ĐƯỜNG TỐNG THƠ BỐN CÂU (II)
THƠ DO CỤ BÙI HẠNH CẨN DỊCH NĂM 2010, CHƯA XUẤT BẢN

Read More

17 thg 3, 2014

VỀ TẬP THƠ “ĐƯỜNG TỐNG THƠ BỐN CÂU” - BẢN DỊCH CỦA CỤ BÙI HẠNH CẨN.

VỀ TẬP THƠ “ĐƯỜNG TỐNG THƠ BỐN CÂU” - BẢN DỊCH CỦA CỤ BÙI HẠNH CẨN.

     gày tết Giáp Ngọ, tôi đến thăm cụ Bùi Hạnh Cẩn, được cụ cho xem bản gốc tập ĐƯỜNG TỐNG - THƠ BỐN CÂU mà cụ dịch từ năm 2010 theo tài liệu được một người bạn chuyển cho. Khi hỏi “cụ có cho phép chuyển định dạng để đưa giới thiệu trên mạng Internet hay không”, cụ vui lòng cho phép và trao đổi cởi mở rằng bây giờ cụ đã 97 tuổi rồi, chẳng có thời gian và sức lực để lo chuyện xuất bản nữa, nếu tôi muốn đưa công khai cho nhiều người thưởng thức cũng được. (Tất nhiên chỉ để xem thôi, người nào muốn đăng hoặc in thành sách dưới dạng kinh doanh phải được phép của cụ, như luật quyền tác giả của CHXHCN Việt Nam quy định). Được lời như cởi tấm lòng, NL tôi hăm hở đưa về nghiền ngẫm, rà soát lỗi chính tả do chế bản, chuyển đổi định dạng và thiết đặt trang để có thể vừa in thành sách, vừa đưa được lên mạng dưới dạng PDF nhờ trang Slideshare.net như đã từng đưa các tập thơ của Hạt Cát và Nhã My lên blog và facebook. Hôm nay, đến hẹn trả bài, tôi đã hoàn công việc, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc yêu thích thơ nói chung và Thơ Đường Luật nói riêng.
     ũng nói thêm rằng so với bản thảo của cụ Bùi Hạnh Cẩn đưa cho ngày tết, tập thơ này có bớt một số bài thơ Hán Việt trùng nhau (nhưng bài dịch thì khác nhau vẫn trình bày đủ)
 nên chỉ còn 428 bài thơ của 170 tác giả thời Đường Tống thuộc Trung Hoa cổ xưa
.


Tập thơ in màu (bìa xanh) và bản thảo của cụ Bùi Hạnh Cẩn

Thơ Đường luật hay thơ Luật Đường là một di sản văn hóa quý giá không chỉ của người Hán. Thơ Đường Luật có hai mảng lớn có giá trị cao đó là thơ THẤT NGÔN BÁT CÚ (tám câu bảy chữ) và thơ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT (bốn câu bảy chữ); Các thể thơ Đường Luật khác như THƠ NĂM CHỮ (ngũ ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn bát cú), thơ YẾT HẬU (ba câu đầu năm chữ, câu cuối chỉ có một chữ) cũng rất có giá trị nhưng không phổ biến bằng hai loại đầu. Trong loại thơ Đường Luật thì thơ BỐN CÂU (như cụ Bùi Hạnh Cẩn gọi loại thơ thất ngôn tứ tuyệt) tuy niêm luật không “niêm” một cách chằng chịt như ở thể thơ THẤT NGÔN BÁT CÚ (người ta nói Thất ngôn tứ tuyệt là Thất ngôn bát cú bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối, chỉ còn “niêm” “buộc” giữa câu 2 và 3) nhưng số câu chữ đã giảm đi một nửa khiến việc chuyển tải thông tin một tình cảnh, một sự việc trở nên khó hơn do phải tìm lời diễn đạt sao cho rõ ràng, dễ hiểu và tiết kiệm. Chính vì vậy việc dịch các bài thơ của thể này sang tiếng Việt cho tròn trịa đúng nghĩa đúng vần đúng thể là công việc rất khó nhọc.
     Thơ Đường luật rất thịnh hành thời Đường và Tống. Trong một bình chọn được trang mạng http://www.xooob.com công bố năm 2012: Mười nhà văn vĩ đại nhất trong mọi thời đại của Trung Quốc đã có tới 6 nhà văn – thơ thuộc thời Đường Tống, đó là các nhà thơ Lý Bạch (triều Đường, xếp thứ 4 theo thời gian), Đỗ Phủ (Đường; thứ 5), Bạch Cư Dị (Đường; 6), Hàn Dũ (Đường; 7), Âu Dương Tu (Tống; 8) và Tô Thức (Tống; 9).
     Có lẽ vì những lý do về đặc điểm thể thơ và thời đại đã nêu trên mà cụ Bùi Hạnh Cẩn đã chọn dịch 428 bài THƠ BỐN CÂU thời ĐƯỜNG - TỐNG.
     Trong 442 bài thơ dịch của cụ, một khuynh hướng quán xuyến chặt chẽ đấy là “dịch thơ đúng nghĩa, diễn giải ra tiếng Việt cũng bằng thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt với các luật lệ khắt khe về vần luật (cả đối và vần) và niêm luật của thể thơ này”.       Đây quả là một việc làm hiếm có đối với một người đã qua tuổi chín mươi như cụ nhưng lại rất vĩ đại vì cụ đã dịch thành công cả tập thơ nổi tiếng và đồ sộ như thế này
. Cũng cần nói thêm rằng dịch thơ tứ tuyệt sang tiếng Việt theo thể thơ tứ tuyệt không phải chưa có ai làm, mà ở đây cái hiếm thấy là cụ Buì Hạnh Cẩn đã biên dịch cả tập thơ đồ sộ hơn 400 bài trong một giai đoạn dài hơn 500 năm thành thơ tiếng Việt cùng kiểu và rất thành công.
     Tập thơ chữ Hán này là sản phẩm tinh thần bất diệt của170 tác giả trải hơn 500 năm lịch sử. Ngoài các nhà thơ lớn trong lịch sử Trung Quốc thời đại đó như đã nêu ở trên, chúng ta sẽ được làm quen với nhiều nhà thơ khác là nhà Quân sự (như Cao Biền, Nhạc Phi, Hoàng Sào); các quan lại cao cấp của triều đình Đường và Tống, thương gia, nhà sư, giới nữ lưu… Với những thành phần tác giả phong phú như vậy cho ta một dải nội dung, chủ đề rất đa dạng mới lạ, có lẽ vì thế tạo ra sự ngỡ ngàng thú vị khi chuyển đọc từ tác giả này sang tác giả khác. 
     Đọc thơ Bốn câu mà cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch, chúng ta không chỉ bắt gặp và thưởng thức các bài thơ thù tạc “chén chú chén anh” diễn đạt tình cảm của các thi nhân khi gặp nhau, mừng nhau, tiễn nhau khi chia tay về hưu hoặc chuyển đổi sở nhiệm; hơn thế nữa ta sẽ thấy tình yêu say đắm của người xưa, khát vọng công lý, hòa bình, an lạc ở ngay những người cầm quân đi chinh phục hết xứ này sang xứ khác. Cao Biền đã từng đem quân từ phía Bắc đến Long Biên (Hà Nội) đánh thắng quân Nam Chiếu đang chiếm đóng Thăng Long đã phải viết:
                Như kim ám dữ tâm tương ước,
                Bất động chinh kỳ, động tửu kỳ.

Cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch là:
                Từ nay ngầm với lòng giao ước,
              Không động cờ quân, động rượu cờ.
    Giá những người đang hầm hè độc chiếm biển Đông học thuộc bài học của người xưa Cao Biền thì cũng là phúc đức cho tổ tiên nhà họ, tránh được binh đao cho các dân tộc khác yêu hòa bình và công lý.
     Khi Truyện Kiều lần đầu dịch ra tiếng Pháp, người Pháp đã nức nở khen câu thơ
                Vừng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường
(Nguyễn Du)
     Nhưng trước đấy hơn ngàn năm, sư cụ chùa Hàn San đã viết:
            Nhất phiết ngọc hồ phân lưỡng đoạn
              Bán trầm thuỷ để, bán phù không

      Cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch là
                H
ồ ngọc một vầng hai nửa cắt,
             Nửa chìm đáy nước, nửa ngang không.
Xuân Diệu khi nói đến làm thế nào để có thơ hay, nhấn mạnh đến hình thức "Thơ phải thật nhiều trăng, thật nhiều mây gió", thì từ ngàn năm trước, nữ sỹ Chu Thục Chân thời Tống đã có cảm nhận thật thú vị với đầu đề bài thơ được cụ Cẩn dịch là VỐC NƯỚC THẤY TRĂNG Ở TAY:
               Vô sự giang đầu lộng bích ba
    Phân minh chưởng thượng kiến Hằng Nga
                ( Các thuỷ nguyệt tại thủ)
Cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch:
              Vô sự đầu sông đùa sóng biếc
            Trên tay rành thấy dáng cô Hằng

Cảm nhận thật thú vị và độc đáo, cả người viết và người dịch đều tài!
      Người Việt chúng ta đã được tiếp xúc với nhiều bài “thơ bốn câu” nổi tiếng thời Đường - Tống được dịch ra tiếng Việt; Đa số các bài dịch đã đi vào lòng người lại là các bài thơ tứ tuyệt được “diễn nôm” bằng thể thơ lục bát hoặc song thất lục bát. Tôi nhớ mãi một bài thơ của Tô Thức “Đùa vui với con”
        Nhân giai dưỡng tử vọng thông minh,
        Ngã bị thông minh ngộ nhất sinh.
       Duy nguyện hài nhi ngu thả lỗ,
       Vô tai vô nạn đáo công khanh*.

Bài thơ được diễn Nôm bằng thể thơ lục bát :
        Sinh con ai cũng muốn thông minh
       Ta thông minh lại gặp rành gian nan
        Mong cho con cháu ngu tràn
        Ngu càng khỏi nạn lại làm quan to.

(Cũng không nhớ là bài thơ do ai dịch nữa, đăng báo Nam Phong được sưu tầm lại trong tập “Thơ cười Việt Nam” từ thời bao cấp.)
Rồi đến bài thơ nổi tiếng khác là Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế
:
         Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
        Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
        Cô Tô* thành ngoại Hàn San tự
        Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Cũng được Nguyễn Hàm Ninh (có người cho là của Tản Đà) diễn Nôm bằng lục bát:
       Trăng tà, chiếc quạ kêu sương,
       Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
       Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
       Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Bản dịch (thật) của Tản Đà cũng là lục bát:
        Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
        Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
        Con thuyền đậu bến Cô Tô
        Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Rồi đến bài “Đề Đô thành nam” của Thôi Hộ
        Nhân diện bất tri hà xứ khứ
        Đào hoa y cựu tiếu đông phong

Cũng được Nguyễn Du diễn nôm thành
        Trước sau nào thấy bóng người
        Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

     Có lẽ dịch thất ngôn tứ tuyệt ra tiếng Việt dùng đúng thể thất ngôn tứ tuyệt theo Đường Luật khó khăn hơn nhưng đấy mới là dịch thơ một cách chính xác và trung thành; cụ Bùi Hạnh Cẩn đã chọn hướng này để dịch hơn 400 bài thơ bốn câu thời Đường Tống và cụ đã thành công. Có vị Tiến Sỹ - nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam của Pháp có nhận xét thú vị, đại ý là ”Dịch thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương ra tiếng Việt thì cụ Bùi Hạnh Cẩn là người dịch chính xác nhất và thành công nhất”. Nhưng cụ Cẩn đâu chỉ dịch riêng thơ của Hồ Xuân Hương. Kỷ niệm “Một ngàn năm Thăng Long - Hà Nội” , khi đã qua tuổi chín mươi, cụ đã dịch tập thơ của Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát và văn của Đoàn thị Điếm, được Nhà xuất bản Văn Học in thành một tập với nhãn sách “THĂNG LONG THI VĂN TUYỂN”, sách dày hơn 300 trang, có tiếng vang mạnh mẽ trong văn giới (xem ảnh dưới cùng của bài viết) 
.
     Xin chân thành chúc cụ Bùi Hạnh Cẩn, cây đa cây đề trong làng văn học nghệ thuật Việt Nam sống lâu, sống khỏe về cả thể chất và tinh thần, sáng tạo thêm nhiều sản phẩm văn hóa đặc sắc cho người, cho đời.
Để đọc tập thơ ĐƯỜNG TỐNG THƠ BỐN CÂU trên trang mạng Slideshare.net, theo đường link này: 
Phần 1:
http://www.slideshare.net/honglinhha7/tho-t-bui-hanhcan1-facebook#
Phần 2:
http://www.slideshare.net/honglinhha7/ng-tng-th-bn-cu-phn-2#


* - Công khanh: Bậc quan to
* Cô Tô: Tên cũ của Tô Châu.


Bìa tập thơ ĐƯỜNG TỐNG THƠ BỐN CÂU in màu là ảnh do Hạt Cát chụp một góc Hồ Tây gần nơi cụ Bùi Hạnh Cẩn đang sống và sáng tác.

 

 Mặt sau và trước của bìa sách THĂNG LONG THI VĂN TUYỂN do cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch thơ Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát và văn của Đoàn thị Điểm năm 2010; NXB Văn Học 2010.



Read More

16 thg 3, 2014

ĐƯỜNG TỐNG THƠ BỐN CÂU (I)

ĐƯỜNG TỐNG THƠ BỐN CÂU (I)
BẢN DỊCH CỦA CỤ BÙI HẠNH CẨN 2010, PHẦN 1

Read More

12 thg 3, 2014

MƯỜI NHÀ VĂN NỔI TIẾNG NHẤT TRONG LỊCH SỬ TQ


 MƯỜI NHÀ VĂN NỔI TIẾNG NHẤT TRONG LỊCH SỬ TQ
Vũ Phong Tạo (Giới thiệu và dịch) bài đăng trên VanVN.net


 Báo mạng Trung Quốc www.xooob.com công bố Bảng xếp hạng Mười nhà văn nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc…


Văn học cổ đại Trung Quốc phân thành Thi và Văn, văn lại phân thành Vận văn và Tản văn (văn vần và văn xuôi). Văn học hiện đại nói chung phân thành: Thi ca, Tản văn, Tiểu thuyết, Hý kịch, đồng thời gọi là bốn thể tài lớn của văn học. Thơ trữ tình và Tản văn (gọi chung là cổ văn) của Trung Quốc phát đạt từ rất sớm.
     Dưới đây là Bảng xếp hạng Mười nhà văn (văn học gia) nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc:

1- Khuất Nguyên
2- Tư Mã Thiên
3- Đào Uyên Minh
4- Lý Bạch
5- Đỗ Phủ
6- Bạch Cư Dị
7- Hàn Dũ
8- Âu Dương Tu
9- Tô Thức
10- Tào Tuyết Cần
       Dưới đây là phần tóm tắt thân thế và sự nghiệp của mười nhà văn trong bảng xếp hạng này.

1 - Khuất Nguyên

  Khuất Nguyên (khoảng năm 340 TCN- khoảng năm 278 TCN), dân tộc Hán, người Đơn Dương, nước Sở thời kỳ Chiến Quốc, họ Khuất, tên Bình, tự Nguyên; Còn tự đặt tên là Chính Tắc, tự Linh Quân. Khuất Nguyên là đời con của Khuất Giả, con trai của Sở Võ Vương Hùng Thông. Khuất Nguyên nêu cao chủ trương liên minh với nước Tề chống lại nước Tần, đề xướng “mỹ chính” (cai trị đất nước bằng xây dựng tình cảm yêu cái đẹp).
      Khuất Nguyên là một trong những nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa vĩ đại nhất Trung Quốc, cũng là thi nhân lừng danh và nhà chính trị vĩ đại sớm nhất của Trung Quốc. Ông sáng lập thể loại văn học “Sở từ” (cũng chính là sáng lập thể loại văn học “Từ phú”), cũng khai sáng truyền thống “Thảo hương mỹ nhân” (bù nhìn bằng cỏ thơm).
      “Ly Tao”, “Cửu Chương”, “Cửu Ca”, “Thiên Vấn” là những tác phẩm tiêu biểu chủ yếu nhất của Khuất Nguyên. “Ly Tao” là bộ thơ trữ tình dài nhất của Trung Quốc. Những tác phẩm của Khuất Nguyên mà hậu thế xem được, đều xuất hiện ở trong bộ sách “Sở Từ” do học giả Lưu Hướng, thời Tây Hán biên tập. Bộ sách này chủ yếu là tác phẩm của Khuất Nguyên, trong đó có một thiên “Ly Tao”, mười một thiên “Cửu Ca” (“Đông Hoàng Thái nhất”, “Vân Trung Quân”, “Tương Quân”, “Tương phu nhân”, “Đại Tư mệnh”, “Thiếu Tư mệnh”, “Đông Quân”, “Hà Bá”, “Sơn Quỷ”, “Quốc Táng”, “Lễ Hồn”), chín thiên “Cửu Chương” (Tịch dũng”, “Thiệp Giang”, “Ai Sính” Trừu tư”, Hoài sa”, “Tư mỹ nhân”, “Tịch vãng nhật”, “Triết tụng”, “Bi hồi phong”), một thiên “Thiên vấn”, v.v…
      Hồi trẻ Khuất Nguyên được vua Sở Hoài Vương tín nhiệm, bổ nhiệm làm Tả đồ, Tam lư đại phu, thường xuyên cùng Sở Hoài Vương thương nghị quốc sự, tham gia xây dựng pháp luật, chủ trương pháp luật nghiêm minh, cử tuyển sử dụng hiền tài, cải cách chính trị, liên minh với nước Tề chống lại nước Tần. Đồng thời Khuất Nguyên chủ trì công tác ngoại giao, chủ trương nước Sở liên hiệp với nước Tề, cùng nhau ngăn chặn chống lại nước Tần.
      Với sự nỗ lực của Khuất Nguyên, sức mạnh của nước Sở được tăng cường đáng kể. Nhưng do bản thân tính tình cương trực, cộng với sự dèm pha và phỉ báng của người khác, Khuất Nguyên dần dần bị Sở Hoài Vương xa lánh. Năm 305 trước Công nguyên, Khuất Nguyên phản đối Sở Hoài Vương ký liên minh Hoàng Sắc với nước Tần, song nước Sở vẫn triệt để ngả theo nước Tần. Khiến cho Khuất Nguyên bị Sở Hoài Vương trục xuất ra khỏi Sính Đô, lưu lạc ở Hán Bắc.
       Trong thời gian Khuất Nguyên bị trục xuất khỏi Sính Đô, lưu đày, Khuất Nguyên cảm thấy trong lòng u uất, bắt đầu sáng tác văn học, trong tác phẩm tràn đầy nỗi lòng quyến luyến đất nước và phong cảnh nước Sở và nhiệt tình vì dân báo quốc.
       Tác phẩm của ông văn tự hoa lệ, tưởng tượng đặc biệt kỳ lạ, tỉ dụ mới mẻ, nội hàm sâu sắc, trở thành một trong những khởi nguồn của văn học Trung Quốc.
       Năm 278 trước Công nguyên, đại tướng Bạch Khởi nước Tần chỉ huy đại quân tiến đánh phía nam, công phá Sính Đô. Trong lòng tuyệt vọng và bi phẫn, Khuất Nguyên đã ôm tảng đá lớn nhảy xuống sông Mịch La mà chết.
      Năm 1953, là năm kỷ niệm lần thứ 2230 năm qua đời của Khuất Nguyên, Hội đồng Hoà bình thế giới thông qua quyết nghị xác định Khuất Nguyên là một trong bốn danh nhân văn hoá thế giới được kỷ niệm vào năm ấy.
2 - Tư Mã Thiên

Tư Mã Thiên sinh vào khoảng năm 145 TCN, qua đời năm 90 TCN, hưởng thọ 56 tuổi. Tư Mã Thiên, tự Tử Trường, là nhà sử học, nhà văn học, nhà tư tưởng vĩ đại thời Đông Hán.
    Tác phẩm “Sử Ký” do ông biên soạn là bộ thông sử thể ký sự đầu tiên của Trung Quốc, được Lỗ Tấn ca ngợi là khúc ca tuyệt với của sử gia, là “Ly Tao” không vần.”
     Tư Mã Thiên là người Long Môn, Hạ Dương, thời Tây Hán. Hạ Dương (phía nam Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây ngày nay), là tên huyện, gần sát Long Môn. Cho nên Tư Mã Thiên tự xưng là “Thiên sinh Long Môn” (Lời nói đầu tự truyện Thái Sử công). Long Môn, núi Long Môn, rất có danh khí. Truyền thuyết kể rằng: Đại Vũ đã từng khai sơn trị thuỷ tại Long Môn. Phía nam núi Long Môn là sông Hoàng Hà. Gia đình của Tư Mã Thiên ở đúng giữa Hoàng Hà và Long Môn. Danh thắng cổ tích ở địa phương này rất nhiều. Hồi nhỏ được thưởng lãm thăm thú mọi núi sông danh lam thắng cảnh, đồng thời Tư Mã Thiên cũng có cơ hội nghe được rất nhiều truyền thuyết và truyện lịch sử.
     Năm sinh năm mất của Tư Mã Thiên chưa được ghi chép rõ ràng trong chính sử.
     Trong tác phẩm “Thái sử công hành niên khảo”, học giả Vương Quốc Duy cho rằng Tư Mã Thiên sinh vào năm Trung Nguyên thứ năm, thời Hán Cảnh Đế (năm 145 TCN), qua đời vào khoảng năm Sử Nguyên thời Hán Chiêu Đế (năm 86 TCN), hưởng thọ 60 tuổi.
     Nghe nói, đại gia đình Tư Mã Thiên từ thời Đường Ngu đến thời Chu, đều là các nhà lịch sử và nhà thiên văn nối dõi nhiều đời. Tư Mã Thoa là danh tướng phạt Thục thời Tần Huệ Vương. Tư Mã Xương là Thiết quan của Tần Thuỷ Hoàng. Đến phụ thân của Tư Mã Thiên là Tư Mã Đàm, lại làm Thái sử lệnh của Hán Võ Đế, đã khôi phục chức nghiệp sử quan tổ truyền lâu đời.
3 - Đào Uyên Minh
     Đào Uyên Minh (khoảng 365-427), tự Nguyên Lượng, cuối đời đổi tên thành Tiềm. Có thuyết nói tên Tiềm, tự Uyên Minh. Tự gọi mình là Ngũ Liễu tiên sinh, sau khi từ trần bạn bè người thân gọi tên huý là Đoan Tiết, cho nên người đời còn gọi là Đoan Tiết tiên sinh. Ông là người Sài Tang, Tầm Dương (thành phố Cửu Giang ngày nay), là thi nhân, nhà từ phú, nhà tản văn, cuối thời Đông Tấn đầu thời Nam Triều.
     Đào Uyên Minh xuất thân trong một gia đình quan lại sa sút. Cụ ông Đào Khản là công thần khai quốc thời Đông Tấn, quân công hiển hách, làm quan đến chức Đại Tư mã, Đô đốc quân sự 8 châu, Thứ sử hai châu Kinh, Giang, được phong là Trường Sa quận công. Ông nội là Đào Mậu, phụ thân Đào Dật đều từng làm Thái thú.
      Thời ấu thơ, gia đình suy vi, lên 9 tuổi cha chết, sống với mẹ và em gái. Là cô nhi quả mẫu, ba người đa phần sống ở trong nhà ông ngoại là Mạnh Gia. Mạnh Gia là danh sĩ đương thời, “không kết bạn tuỳ tiện, không phô trương sa sỉ, ít khi tươi cười. Nấu rượu ngon, uống nhiều mà không say, khi đắc chí thìkhông coi ai ra gì” (mục hạ vô nhân). Đào Uyên Minh “biết xử thế, thích làm theo ông ngoại.” Sau này, cá tính, tu dưỡng của ông đều có nhiều điểm giống phong cách của ông ngoại.
       Trong gia đình ông ngoại lưu trữ nhiều sách, tạo điều kiện cho Đào Uyên Minh đọc sách cổ và tìm hiểu lịch sử. Trong thời đại Lưỡng Tấn, học giả tôn sùng “Trang”, “Lão” coi thường “Lục Kinh”, song ông không giống các sĩ đại phu thông thường học “Lão Tử”, “Trang Tử”, mà còn học “Lục Kinh” của Nho gia và những loại “sách khác” như văn sử cùng các loại sách thần thoại.
       Với ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng thời đại và hoàn cảnh gia đình, khiến cho ông tiếp thụ hai loại tư tưởng khác của Nho gia và Đạo gia, bồi dưỡng nên hai hứng thú khác nhau là “thăm thú tứ hải” và “yêu thích núi đồi”.
     4 - Lý Bạch
       Lý Bạch (701-762), dân tộc Hán, tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên Cư Sĩ, được mệnh danh là “Thi tiên” sánh vai với Đỗ Phủ nên gọi chung là “Lý Đỗ”. Thân hình cao trên 7 thước (khoảng 1,83 mét). Sinh ra tại Đô hộ phủ Tây An, chết tại Diệp Thành, thuở nhỏ di cư đến huyện Xương Long, Cẩm Châu, Tứ Xuyên (thành phố Giang Du, tỉnh Tứ Xuyên ngày nay, thuyết này do Quách Mạt Nhược là đại biểu; Lại có thuyết cho rằng Lý Bạch sinh ra tại thành phố Giang Du, Tứ Xuyên).
     Lý Bạch là nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa vĩ đại thời nhà Đường. Phong cách thơ của ông hào phóng bay bổng, tưởng tượng phong phú, ngôn ngữ lưu chuyển tự nhiên, âm luật hài hoà đa biến. Ông khéo léo hấp thu chất liệu từ trong dân ca, thần thoại, cấu thành sắc thái lung linh sán lạn chỉ có ở ông, là đỉnh cao mới của thi ca lãng mạn chủ nghĩa tích cực có từ Khuất Nguyên.
    Hàn Dũ đã viết:
       “Lý Đỗ văn chương tại,
  quang diệm vạn trượng trường”
 (Văn chương của Lý Bạch và Đỗ Phủ còn, thì ánh sáng chiếu xa vạn trượng- “Trọc Trương Tịch”).
     Vua Đường Văn Tông đã ngự phong Thơ của Lý Bạch, Múa kiếm của Bùi Án, Thảo thư của Trương Húc là “Tam tuyệt”.
     Kiếm thuật của Lý Bạch tại triều Đường có thể xếp thứ nhì (dưới Bùi Án), nhưng nếu như Lý Bạch bỏ văn theo võ, chuyên tâm nghiên cứu kiếm thuật, tin rằng sẽ không kém gì Bùi Án. Khi còn trẻ, Lý Bạch là một vị hiệp sĩ trên đường gặp sự bất bình, bèn rút đao tương trợ. (Điều này có liên quan đến tư tưởng hiệp sĩ, một trong ba tư tưởng lớn của ông), trong “Dã sử” có nhiều ghi chép về phương diện này.
 5 - Đỗ Phủ
      Đỗ Phủ (712-770), dân tộc Hán, tự Tử Mỹ, người huyện Củng, tỉnh Hà Nam (Củng Nghĩa, Trịnh Châu ngày nay), người đời gọi là Đỗ Công Bộ, Đỗ Thập Di, tự gọi mình là Thiếu Lăng Dã Lão (ông già quê mùa ở Thiếu Lăng), là thi nhân hiện thực chủ nghĩa vĩ đại thời nhà Đường ở Trung Quốc.
     Đỗ Phủ là nhà thơ hết lòng vì nước vì dân, được người đời mệnh danh là Thi Thánh, được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hoá thế giới, sánh vai với Lý Bạch mệnh danh chung là “Đại Lý Đỗ”.
      Quê cha đất tổ của Đỗ Phủ ở Tương Dương (thành phố Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc ngày nay), viễn tổ là cụ Đỗ Dự công danh hiển hách thời nhà Tấn, ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, thi nhân đầu triều Đường.
     Đỗ Phủ đã từng đảm nhiệm Tả Thập Di, Kiểm hiệu Công Bộ viên ngoại lang, vì thế hậu thế gọi ông là Đỗ Thập Di, Đỗ Công Bộ. Đỗ Phủ sinh sống trong thời kỳ lịch sử từ thịnh chuyển sang suy của triều Đường, thơ của ông đa số viết về xã hội động loạn, chính trị hắc ám, nhân dân thống khổ, nên thơ của ông được mệnh danh là “Thi sử”.
     Đỗ Phủ lo cho nước, lo cho dân, nhân cách cao thượng, thi nghệ thậm tinh, được hậu thế mệnh danh là “Thi Thánh”. Suốt đời, Đỗ Phủ viết được trên 1.400 bài thơ, trong đó rất nhiều tác phẩm nổi tiếng truyền tụng thiên cổ, ví dụ “Tam lại” và “Tam biệt”, đồng thời có “Đỗ Công Bộ tập” lưu truyền nhiều đời; Trong đó “Tam lại” là “Thạch Hào lại”, “Tân An lại” và “Đồng Quan lại”; “Tam biệt” là “Tân hôn biệt”, “Vô gia biệt” và “Thuỳ Lão biệt”.
      Thơ của Đỗ Phủ có ảnh hưởng sâu sắc lâu dài với hậu thế.
6 - Bạch Cư Dị
     Bạch cư Dị (772-846), dân tộc Hán, tự Lạc Thiên, hiệu Hương Sơn Cư Sĩ, người Hạ Khuê (đông bắc Vị Nam, tỉnh Thiểm Tây ngày nay), là thi nhân và văn học gia lừng danh và có ảnh hưởng sâu sắc lâu dài trong lịch sử văn học Trung Quốc, được mệnh danh là “Thi Ma” và “Thi Vương”.
     Thơ của ông có ảnh hưởng sâu rôngj ở các nước Trung Quốc, Nhật Bbản và Triều Tiên, v.v…, là lãnh tụ của “Phong trào Lạc Phủ mới”.
    Quê cha đất tổ của Bạch Cư Dị ở Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây, cụ nội di cư đến Hạ Khuê (bắc Vị Nam, tỉnh Thiểm Tây ngày nay), ông nội Bạch Hoàng lại di cư đến Tân Trịnh, tỉnh Hà Nam.
     Bạch Cư Di sinh ngày 20 tháng giêng năm Đại Lịch thứ 7, triều Đường đại Tông (28-2-772 dương lịch), tại thôn Đông Quách Vu, phía tây thành Tân Trịnh (chùa Đông Quách ngày nay). Cuối đời Bạch Cư Dị cư trú lâu dài tại Hương Sơn, Lạc Dương, có tên hiệu là “Hương Sơn Cư Sĩ”.
      Tháng 8 năm Hội Xương thứ 6, thời Vũ Tông (năm 846) Bạch Cư Dị từ trần tại Lạc Dương, an táng tại Hương Sơn, thành phố Lạc Dương, hưởng thọ 75 tuổi.
     Sau khi ông qua đời, Vua Đường Tuyên Tông Lý Thẩm đã ngự bút trực tiếp viết thơ tưởng niệm nhà thơ Bạch Cư Dị.
    Tác phẩm để lại có “Bạch thị Trường Khánh tập” 71 quyển.
7 - Hàn Dũ

      Hàn Dũ (768-824), nhà văn học, nhà triết học thời nhà Đường, tự Thoái Chi, người Hà Dương (thành phố Mạnh Châu, Tiêu Tác, tỉnh Hà Nam ngày nay, dân tộc Hán. Quê cha đất tổ ở Xương Lê, tỉnh Hà Bắc, người Đời gọi là Hàn Xương Lê. Cuối đời làm Lại bộ thị lang, nên còn gọi là Hàn Lại Bộ. Tên thuỵ là “Văn”, nên còn gọi là Hàn Văn Công.
      Hàn Dũ là người đề xướng Phong trào Cổ văn thời nhà Đường, chủ trương học tập ngôn ngữ tản văn của Tiên Tần và Lưỡng Hán, phá biền ngẫu thành tản văn, khuyếch đại chức năng biểu đạt của thể loại văn ngôn. Người triều Minh tiến cử ông là Người đứng đầu “Đường Tống bát đại gia”, sánh vai với Liễu Tôn Nguyên gọi chung là “Hàn Liễu”, có các tên khác là “Văn Chương Cự Công” và “Bách Đại văn tôn”.
     Tác phẩm của ông đều được tập hợp trong “Xương Lê tiên sinh tập”.
     Hàn Dũ còn là một người thợ cự phách về ngôn ngữ. Ông khéo léo sử dụng từ ngữ của tiền nhân, lại chú trọng tinh luyện khẩu ngữ đương đại, để sáng tạo ra rất nhiều ngữ cú mới, trong đó có không ít câu đã trở thành thành ngữ lưu truyền đến nay, như “Lạc tỉnh hạ thạch” (Người đã ngã xuống giếng còn bị ném đá theo), “Tạp loạn vô chương” (văn chương lộn xộn), v.v… Về tư tưởng ông là người xác lập quan niệm “đạo chính” Trung Quốc, là nhân vật cột mốc tôn Nho phản Phật.
      Ba tuổi, Hàn Dũ đã mồ côi cha mẹ, được anh và chị dâu dưỡng dục, ngay từ nhỏ đã phải sống lang thang khốn khổ, có chí học hành kinh bang tế thế, tuy mồ côi nghèo khó, nhưng hiếu học. Năm 20 tuổi lên Trường An thi Tiến sĩ, ba lần thi đều không đậu. Sau năm 25 tuổi, ông thi đỗ Tiến sĩ, sau thi Bác học không đỗ, nên đến nhậm chức ở hai Phủ Tiết độ sứ của Đổng Tấn (Biện Châu) và Trương Kiến Phong (Từ Châu).
    Sau trở về kinh thành nhiệm chức Bác sĩ tứ môn. Sau năm 36 tuổi, ông làm Giám sát ngự sử, bởi vì dâng tấu chương bàn luận về trời hạn người đói, kiến nghị miễn giảm phu thuế, bị biếm chức xuống làm Dương Sơn lệnh.
      Khi Vua Hiến Tông trở về miền bắc, vì là Bác sĩ quốc tử, làm quan đến chức Hữu Thứ Tử Thái Tử, những bất đắc chí. Sau khi 50 tuổi, trước tiên từ Bùi Độ trưng Ngô Nguyên Tế, sau di chuyển làm Thị lang Hình bộ. Vì can gián đón Phật cốt, bị biếm chức đi làm Triều Châu thứ sử. Sau khi bị điều đi Viên Châu. Không lâu sau trở về triều đình, từng đảm nhiệm các chức Quốc tử giám Tế tửu, Binh bộ Thị lang, Kinh Diêu doãn. Về chính trị tương đối thành đạt. Thi ca đòi hỏi cầu kỳ mới lạ, khí thế hùng hồn.
      8 - Âu Dương Tu

    Âu Dương Tu (1007-1072), tự Vĩnh Thúc, dân tộc Hán, tự đặt tên hiệu là Tuý Ông, cuối đời có tên hiệu là Lục Nhất Cư Sĩ, tên huý là Văn Trung, người đời tôn xưng là Âu Dương Văn Trung Công. Ông là người Vĩnh Phong Cát An (Giang Tây ngày nay). Nhưng ông tự nhận là người Lư Lăng, vì Cát Châu vốn thuộc quận Lư Lăng, sinh ra tại Cẩm Châu (Cẩm Dương, tỉnh Tứ Xuyên ngày nay). Âu Dương Tu là nhà chính trị, nhà văn học, nhà sử học và thi nhân thời kỳ Bắc Tống.
     Cùng với Hàn Dũ, Liễu Tôn Nguyên (đời Đường), Vương An Thạch, Tô Tuần, Tô Thức, Tô Triệt, Tăng Củng (đời Tống) gọi chung là “Đường Tống bát đại gia” (tám nhà nổi tiếng thời Đường Tống).
     Thời vua Nhân Tông, làm các chức Tri Chế tạo, Hàn Lâm học sĩ; Thời vua Anh Tông làm quan đến chức Khu mật phó sứ, Tham tri chính sự; Thời kỳ vua Thần Tông, làm Binh bộ Thượng thư, Chí sĩ Thái Tử Thiếu soái. Sau khi qua đời, tên huý là Văn Trung.
      Ông đều có chủ trương cách tân về các phương diện chính trị và văn học, vừa là người ủng hộ Phạm Trọng Yêm tiến hành tân chính Khánh Lịch, cũng là người lãnh đạo phong trào cách tân thơ văn Bắc Tống. Ông hăng hái giúp đỡ những người đi sau, cha con Tô Thức và Tăng Củng, Vương An Thạch đều trưởng thành dưới trướng của ông.
     Thành tích sáng tác cũng hiển hách khả quan, thơ, từ, tản văn đều đứng đầu một thời. Tản văn thuyết lý thoáng đạt, trữ tình uyển chuyển; Thi phong và tản văn gần gũi, trọng khí thế mà có thể lưu thoát tự nhiên; Từ của ông sâu sắc thanh thoát diễm lệ, kế thừa phong vị của Nam Đường.
      Ông đã cùng Tống Kỳ hợp tác biên soạn “Tân Đường Thư”, một mình biên soạn “Tân Ngũ Đại sử”. Ông mê sưu tập văn tự kim thạch, biên soạn thành “Tập cổ lục”. Những trước tác có “Âu Dương Văn Trung Công văn tập”. Thơ “Đạp Sa hành”. Đồng thời trước tác “Tuý Ông đình ký” nổi tiếng.
      Sau khi qua đời, Âu Dương Tu được an táng tại Tân Trịnh, Khai Phong (Tân Trịnh, tỉnh Hà Nam ngày nay). Thôn Âu Dương Tự, trấn Tân Điếm, thành phố Tân Trịnh hiện có Lăng mộ Âu Dương Tu, là đơn vị bảo hộ văn vật cấp quốc gia. Ngoài ra, ngoại ô phía nam Miên Dương hiện nay cũng có từ đường thờ ông, gọi là Lục Nhất đường.
9 – Tô Thức

    Tô Thức (1037-1101) tự Tử Đam, còn có tên tự là Hoà Trọng, hiệu “Đông Pha Cư Sĩ”, hưởng thọ 66 tuổi.
      Năm Càn Thông thứ 6, triều Nam Tống, ông đã được vau Cao Tông phong tặng danh hiệu Thái Sư. Tô Thức là người Mi Châu (Mi Sơn, tỉnh Tứ Xuyên ngày nay), dân tộc Hán, con trai cả của cụ Tô Tuần, nhà văn học, nhà thư hoạ, nhà tản văn, thi nhân, từ nhân nổi tiếng đời Bắc Tống, ông là đại biểu của những từ nhân trường phái hào phóng.
     Năm Gia Hựu thứ 2 (1057), và em trai Tô Triệt cùng đỗ Tiến sĩ. Được thụ phong là Đại Lý Bình Sự, Phán quan của Phủ Giám thư Phượng Tường.
      Năm Hy Ninh thứ 2 (1069) sau khi mãn tang cha, ông trở lại triều đình, làm Phán quan Cáo viện. Do chính kiến không hợp với Vương An Thạch, phản đối thực hành tân pháp, tự xin ra ngoài nhậm chức, ra làm Thông phán Hàng Châu. Sau đó còn di chuyển làm Tri châu của Mật Châu (Chư Thành, tỉnh Sơn Đông ngày nay) và Từ Châu.
      Năm Nguyên Phong thứ 2 (1079), vì liên quan đến “Vụ án thơ U Đài”, ông bị trách phạt, điều đi làm Đoàn luyện phó sứ của Hoàng Châu (Hoàng Cương, tỉnh Hồ Bắc ngày nay), an tríở châu này, nên không được ký tên vào công văn.
      Khi lập vua Triết Tông, Cao Thái Hậu nhiếp chính, Tô Thức được phục chức Tri châu của Đăng Châu; Bốn năm sau được điều đi làm Lang trung Bộ Lễ, nhậm chức chưa được mười ngày, phải đi làm Xá nhân lo việc ăn ngủ, trung thư, sau điều sang làm Hàn Lâm học sĩ Tri Chế tạo, Cống cử Bộ Lễ.
     Năm Nguyên Hựu thứ 4 (1089), ông ra làm Tri châu Hàng Châu, sau điều đi làm Tri châu của Dĩnh Châu, Dương Châu, Định Châu.
     Nguyên Hựu thứ 8 (1093), vua Triết Tông trực tiếp điều hành chính sự, Tô Thức bị biếm chức điều đi xa tận Huệ Châu (Huệ Dương, tỉnh Quảng Đông ngày nay), sau lại bị biếm chức lưu đầy tại Chiêm Châu (Huyện Chiêm, tỉnh Hải Nam ngày nay).
    Khi vua Huy Tông tại vị, ông được đặc xá, trở về miền bắc, đến năm Đoan Quốc thứ nhất (1101), Tô Thức qua đời tại Thường Châu (Giang Tô ngày nay), hưởng thọ 66 tuổi, an táng tại huyện Hiệp Thành, Nhữ Châu (Huyện Hiệp, tỉnh Hà Nam ngày nay).
    Ông cùng cha Tô Tuần (1009-1066), em trai Tô Triệt (1039-1112) đều nổi tiếng về văn học, người đời mệnh danh là “Tam Tô”; lừng danh sánh vai với “Tam Tào phụ tử” (Tào Tháo, Tào Phi, Tào Thực) cuối vương triều Hán.
     Là một từ nhân kiệt xuất, ông đã mở đầu phong cách từ hào phóng, sánh vai cùng từ nhân kiệt xuất Tân Khí Tật và được gọi chung là “Tô Tân”.
     “Tam Tô” là ba vị trong “Đường Tống bát đại gia” (Đường Tống bát đại gia là hợp xưng của 8 nhà văn viết tản văn nổi tiếng tiêu biểu thời kỳ Đường Tống, tức là Hàn Dũ, Liễu Tôn Nguyên (đời Đường), Âu Dương Tu, Tô Tuần, Tô Thức, Tô Triệt, Vương An Thạch, Tăng Củng (đời Tống).
     Tác phẩm của Tô Thức có “Đông Pha thất tập”, “Đông Pha lạc phủ”, v.v…
     Về chính trị, ông thuộc Cựu đảng do Tư Mã Quang làm lãnh tụ.
10 – Tào Tuyết Cần
Tào Tuyết Cần (1714- 1764).
    Năm Càn Long thứ 28 (1763), con nhỏ của Tào Tuyết Cần chết sớm, ông chìm đắm trong buồn thương và bi thống quá độ, ốm nặng liệt giường. Đến đêm giao thừa năm ấy (12-2-1764), cuối cùng vì nghèo khó ốm nặng không có tiền chữa bệnh, Tào Tuyết Cần đã qua đời, hưởng niên 50 tuổi.
    Tào Tuyết Cần “người béo, đầu rộng, da đen”. Ông tính cách kiêu ngạo, phẫn uất bất bình trước thế tục, hào phóng tự nhiên. Nghiện rượu, tài ba ngang dọc, khéo nói giỏi ăn.
    Tào Tuyết Cần là một vị thi nhân. Thơ của ông lập ý tân kỳ, phong cách gần như Lý Hạ, thi nhân thời Đường. Quách Thành, bạn ông đã từng hết lời ca ngợi: “Ái quân thi bút hữu kỳ khí”(Yêu anh thi bút diệu kỳ). Tào Tuyết Cần còn là một hoạ gia, thích vẽ cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, như những hòn đá lạ chọc thẳng lên trời xanh.
     Nhưng, cống hiến lớn nhất của Tào Tuyết Cần còn ở lĩnh vực sáng tác tiểu thuyết.
     Tiểu thuyết “Hồng Lâu Mộng” của ông nội dung phong phú, tư tưởng sâu sắc, nghệ thuật tinh thâm, đẩy sáng tác tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc lên đỉnh cao nhất, chiếm địa vị vô cùng trọng yếu trong lịch sử phát triển văn học thế giới.
     “Hồng Lâu Mộng” là sản phẩm đã kết tinh tâm huyết của ông “phê duyệt mười năm, thêm bớt năm lần, từng chữ từng chữ đều là máu, mười năm gian khổ chẳng tầm thường”.
     80 hồi sau của bản “Hồng Lâu Mộng” hiện nay đang lưu truyền, ông đã viết xong, nhưng do rất nhiều nguyên nhân, mà chưa lưu truyền lại.
     Có giả thuyết cho rằng Cao Ngạc (có thể chỉ là người hiệu đính) viết tiếp.
                          (Theo www.xooob.com)
Read More

3 thg 3, 2014

CHÚC MỪNG SINH NHẬT HOA TULIP 08-03-2014

CHÚC MỪNG SINH NHẬT HOA TULIP
 08-03-2014



Read More